Kiểm toán Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế

Kiểm toán Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế

“VIETNAM ACCOUNTING AND AUDITING SECTOR WITH INTERNATIONAL ECONOMIC INTEGRATION”

1. Đặt vấn đề: Kế toán và kiểm toántrong kinh tế thị trường, ngoài vai trò cung cấp thông tin tin cậy cho quản lý và cho các quyết định kinh tế-tài chính, đã và đang được thừa nhận là một dịch vụ không thể thiếu của một nền kinh tế mở. Thị trường dịch vụ kế toán – kiểm toán thống nhất đòi hỏi có sự chuẩn bị về khung khổ pháp lý, về sự hài hoà các chuẩn mực kế toán, kiểm toán, thu hẹp khoảng cách của sự khác biệt về thống nhất của chương trình, nội dung đào tạo, huấn luyện; thi cử và đánh giá chất lượng đào tạo, chất lượng dịch vụ; về sự thừa nhận lẫn nhau các chứng chỉ hành nghề của mỗi quốc gia…Dưới ảnh hưởng của Cách mạng công nghệ 4.0 và nhu cầu mới từ các doanh nghiệp, lĩnh vực kế toán, kiểm toán đang dần chuyển đổi sang dựa trên sự ứng dụng khoa học công nghệ mới và đổi mới sáng tạo. Điều đó làm thay đổi diện mạo, mô hình tổ chức doanh nghiệp và đặt ra những yêu cầu mới về kỹ năng đối với kế toán và kiểm toán Việt Nam. Trên cơ sở các xu hướng thay đổi trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt Nam trong thời gian qua, tác giả đưa ra một số nhận định về vấn đề đặt ra trong tiến trình hội nhập kinh tế Quốc tế đối với Việt Nam từ nay đến 2025.

Từ khóa: Doanh nghiệp (DN), Hội nhập kinh tế Quốc tế (HNKTQT), Cách mạng Công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0); chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).

1. Question: Accounting and auditing in the market economy, in addition to its role of providing reliable information for management and economic-financial decisions, has been recognized as a non-service. indispensable for an open economy. The unified accounting and auditing service market requires the preparation of the legal framework, the harmonization of accounting and auditing standards, narrowing the gap of program consistency differences. , content training, coaching; examination and assessment of training quality, service quality; on the mutual recognition of practicing certificates of each country … Under the influence of the 4.0 Technology Revolution and new demands from businesses, the accounting and auditing fields are gradually transitioning to relying on the application of new science and technology and innovation. That changes the face and organizational model of the business and puts new requirements on skills for Vietnamese accounting and auditing. On the basis of changing trends in the field of accounting and auditing in Vietnam in recent years, the author gives some comments on the problems raised in the international economic integration process for Vietnam. from now to 2025.

Keywords: Enterprise (DN), International Economic Integration (HNKTQT), Industrial Revolution 4.0 (Industrial Revolution 4.0); International financial reporting standards (IFRS).

Kiểm toán Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế

2. Xu hướng hội nhập của ngành Kế toán, Kiểm toán

Kế toán và kiểm toán với tư cách là một ngành, một lĩnh vực thương mại dịch vụ hiện được quan tâm và hội nhập khá toàn diện, sâu rộng. Thương mại dịch vụ nói chung, thương mại dịch vụ kế toán và kiểm toán nói riêng trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thương mại của từng quốc gia và toàn cầu. Tự do hoá thương mại dịch vụ, tự do hoá dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia, nhất là các nước phát triển. Mục tiêu của tự do hoá thương mại dịch vụ, dịch vụ kế toán và kiểm toán là các quốc gia loại bỏ những hạn chế, rào cản đối với hoạt động của pháp nhân và thể nhân nước ngoài trên lãnh thổ nước mình và dành cho nhau quy chế đối xử quốc gia. Theo đó, không có sự phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại hàng hoá và dịch vụ. Mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ của thành viên khác sự đối xử ưu đãi tương tự như ưu đãi dành cho dịch vụ của mọi thành viên khác.

Hiện nay, kế toán, kiểm toán là công cụ quản lý kinh tế quan trọng, hữu hiệu của mỗi quốc gia, có nhiệm vụ kiểm kê, kiểm soát hoạt động kinh tế, tài chính, đo lường hiệu quả kinh doanh, hiệu quả sử dụng nguồn lực, góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, thông thoáng. Đồng thời là ngành dịch vụ thương mại hỗ trợ kinh doanh quan trọng, mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội to lớn. Với tư cách là một loại hình dịch vụ, kế toán, kiểm toán Việt Nam đã hình thành và phát triển mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, của các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính, đã từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, ngành Kế toán, Kiểm toán Việt Nam đã và đang chịu tác động từ những xu thế hội nhập lớn của ngành kế toán, kiểm toán thế giới. Có thể kể đến 2 xu hướng lớn sau:

Kiểm toán Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ nhất, xu hướng tự do hóa dịch vụ kế toán, kiểm toán.

Kế toán và kiểm toán với tư cách là một ngành, một lĩnh vực thương mại dịch vụ được quan tâm và hội nhập khá toàn diện. Thương mại dịch vụ nói chung, dịch vụ kế toán và kiểm toán nói riêng đã trở thành ngành kinh tế quan trọng và chiếm tỷ trọng đáng kể trong thương mại của từng quốc gia và toàn cầu. Tự do hóa dịch vụ kế toán, dịch vụ kiểm toán đã trở thành mối quan tâm của nhiều quốc gia, nhất là các nước phát triển. Mục tiêu của tự do hóa dịch vụ kế toán và kiểm toán là các quốc gia loại bỏ những hạn chế, những rào cản đối với hoạt động của pháp nhân và thể nhân nước ngoài trên lãnh thổ nước mình và dành cho nhau quy chế đối xử quốc gia. Nghĩa là, không có sự phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại dịch vụ kế toán và kiểm toán. Theo đó, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ của thành viên khác sự đối xử ưu đãi tương tự như ưu đãi dành cho dịch vụ của mọi thành viên khác. Không có quốc gia nào được hưởng các lợi thế thương mại đặc biệt hơn so với quốc gia khác. Các thành viên được đối xử công bằng và đều được quyền hưởng lợi từ các cuộc đàm phán về thuế quan, về hàng rào phi thuế quan và mở cửa thị trường dịch vụ. Quy chế đối xử quốc gia còn quy định một sản phẩm hoặc dịch vụ khi được nhập khẩu vào thị trường một quốc gia phải được đối xử ưu đãi như sản phẩm, dịch vụ tương tự sản xuất trong nước. Nội dung của tự do hóa thương mại dịch vụ, trong đó có dịch vụ kế toán và kiểm toán được thể hiện qua 4 hình thức: Cung cấp dịch vụ qua biên giới; Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài; Hiện diện thương mại; Hiện diện thể nhân. Trong lĩnh vực kế toán và kiểm toán, hình thức cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện thương mại và hiện diện thể nhân được nhiều nước quan tâm và cũng là hình thức hoạt động có hiệu quả, dễ được chấp nhận.

Thứ hai, xu thế hình thành thị trường thống nhất về dịch vụ kế toán và kiểm toán khu vực.

Hiện thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán thống nhất đã và đang hình thành trong khu vực ASEAN. Đó là một xu thế, một yêu cầu mới, một cơ hội mới cho sự phát triển và nhất thể hóa nghề kế toán, kiểm toán trong khu vực. Điều này đã đặt ra yêu cầu thách thức đối với các doanh nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam. Thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán thống nhất đòi hỏi có sự chuẩn bị ở tất cả các nước thành viên về khuôn khổ pháp lý, về sự nhất thể hóa các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc gia, chuẩn mực kiểm toán của mỗi nước, thu hẹp khoảng cách khác biệt, thống nhất về chương trình đào tạo, huấn luyện nghề nghiệp kế toán, kiểm toán; công nhận, thừa nhận lẫn nhau về bằng cấp, chứng chỉ hành nghề,… Thị trường dịch vụ kế toán và kiểm toán thống nhất đã và đang hình thành trong khu vực ASEAN tạo ra yêu cầu mới, cơ hội mới cho sự phát triển và nhất thể hóa nghề kế toán, kiểm toán trong khu vực. Nhưng có rất nhiều việc phải làm từ bản thân các doanh nghiệp, cá nhân kế toán, kiểm toán viên, từ phía các tổ chức nghề nghiệp.

3. Một số giải pháp nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập của Kế toán, kiểm toán Việt Nam

Việt Nam hiện nay đã ký kết hiệp định tự do thương mại song phương và đa phương và đang từng bước đi vào kỷ nguyên Cách mạng công nghệ 4.0 với quyết tâm của cả hệ thống chính trị thể hiện ở nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Quá trình đó cũng đặt ra những vấn đề mới đối với lĩnh vực kế toán, kiểm toán, cụ thể:

Thứ nhất, số hóa lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt Nam.

Quá trình số hóa lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt Nam là điều không thể tránh khỏi, vì các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng và phong phú. Số lượng các giao dịch kinh tế của DN sẽ tăng trưởng nhanh chóng, cũng như các loại hình kinh doanh mới dựa trên nền tảng số sẽ đặt ra nhiều áp lực cho lĩnh vực kế toán, kiểm toán, đó là phải thay đổi trọng tâm từ việc kiểm tra tính xác thực, mức độ phù hợp của các giao dịch với chuẩn mực kế toán, kiểm toán và chuẩn bị các báo cáo tài chính sang cung cấp thêm nhiều thông tin sâu hơn cho quá trình ra quyết định của DN.

Hơn nữa, dưới sự tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, các dữ liệu về hồ sơ, chứng từ, kế toán sẽ dần được chuyển sang dạng số hóa, điều này làm cho các kế toán, kiểm toán viên với những kỹ năng thông thường khó có thể nắm bắt được sự đa dạng về loại hình và hình thức giao dịch số. Các DN sẽ dần dần được vận hành trên nền tảng số cũng sẽ đặt ra yêu cầu số hóa lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Tuy nhiên, việc số hóa lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt Nam chưa theo kịp được với xu hướng mới, cần có những biện pháp quyết liệt để thực hiện, cần quan tâm đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin một cách đồng bộ, kịp thời, đáp ứng xu thế phát triển của hệ thống số toàn cầu. Trong đó, chú trọng xây dựng hệ thống an ninh mạng, bảo mật cao thông tin dữ liệu kế toán, kiểm toán. Bên cạnh đó, nghiên cứu và vận dụng một cách hiệu quả, phù hợp các phương pháp kiểm toán, kể cả phương pháp cơ bản và phương pháp kỹ thuật, nhất là các phương pháp thu thập, đánh giá bằng chứng kiểm toán, các phương pháp phân tích kỹ thuật trong bối cảnh nghề kế toán sử dụng chứng từ điện tử, công nghệ blockchain, điện toán đám mây,… Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đào tạo nguồn nhân lực kế toán, kiểm toán cũng như định hướng và khuyến khích chuyển dịch lao động trong Cộng đồng Kinh tế ASEAN. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế, không ngừng phát triển các thị trường dịch vụ kế toán, kiểm toán lành mạnh, bền vững; Phát triển các hoạt động dịch vụ kế toán, kiểm toán theo xu hướng phát triển của các nước trong khu vực và quốc tế, tạo dựng và mở rộng giao lưu nghề nghiệp.

Thứ hai, ứng dụng công nghệ 4.0 vào lĩnh vực kế toán, kiểm toán.

Ứng dụng công nghệ 4.0 vào lĩnh vực kế toán, kiểm toán cần có một hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, tương thích với các công nghệ mới này. Mặc dù, nước ta đã gia nhập câu lạc bộ của các quốc gia có mức thu nhập trung bình, nhưng hệ thống kết cấu hạ tầng của chúng ta vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ứng dụng công nghệ 4.0 vào lĩnh vực này. Ví dụ, tốc độ băng thông của hệ thống internet Việt Nam năm 2019 đã tụt 4 bậc so với năm 2018 theo kết quả thống kê của SpeedTest. Như vậy, nếu các DN trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán và các DN khác trong nền kinh tế đều ứng dụng công nghệ 4.0 trong công việc của mình, thì với khối lượng giao dịch lớn của hàng trăm ngàn DN hệ thống mạng internet sẽ bị quá tải. Sự phát triển của hệ thống kết cấu hạ tầng internet sẽ đặt ra những giới hạn cho việc ứng dụng công nghệ 4.0 vào trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Đây là bài toán đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng số không phải là việc có thể tiến hành nhanh, trong khi việc ứng dụng công nghệ 4.0 trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán có thể sẽ diễn ra rất nhanh chóng.

Kiểm toán Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ ba, lộ trình hài hòa chuẩn mực kế toán, kiểm toán với thế giới.

Từ năm 2016 đến nay, Bộ Tài chính đã phối hợp với nhiều đơn vị liên quan để tổ chức các hội thảo, thực hiện khảo sát nhu cầu áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của DN tại Việt Nam. Từ đó, Bộ Tài chính đã thu thập được nhiều thông tin về nhu cầu của DN và đang tiến hành các công việc cần thiết để có thể triển khai việc hài hòa hóa IFRS trong hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán của Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều DN của Việt Nam chưa tìm hiểu và chưa được đào tạo về hệ thống chuẩn mực kế toán, kiểm toán mới này sẽ tạo ra những xáo trộn trong hoạt động của DN. Hơn nữa, việc thay đổi chuẩn mực kế toán, kiểm toán cũng sẽ ảnh hưởng đến các hoạt động của DN thuộc lĩnh vực này trong chuyển đổi mô hình hoạt động và các quy trình thực hiện. Việc thay đổi này cũng làm cho các DN phải gia tăng chi phí ban đầu để chuyển đổi hệ thống và chi phí đào tạo nhân viên hiện tại.

Theo đó, các DN kế toán, kiểm toán Việt Nam cần chú ý những điểm sau: (i) Sự thay đổi của hạ tầng kinh tế và pháp lý toàn cầu; (ii) Gia tăng sự phức hợp của luật và quản trị DN; (ii) Sự hài hòa sâu sắc hơn giữa chuẩn mực kế toán, kiểm toán và nguyên tắc kinh doanh; (iii) Mở rộng phạm vi, khối lượng và mức độ phức tạp của các báo cáo tài chính và phi tài chính; (iv) Quản trị và viễn cảnh của việc thuê ngoài thực hiện các dịch vụ công; (v) Mở rộng hoạt động thu thuế.

Đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực trong lĩnh vực kế toán. Theo đó, tăng cường hội nhập quốc tế, tạo dựng mối liên hệ chặt chẽ, thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và các quốc gia trong khu vực, trên thế giới và các tổ chức quốc tế; tham gia với tư cách là thành viên chính thức của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế; tham gia chủ động vào quá trình xây dựng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, chuẩn mực kế toán công quốc tế thông qua các diễn đàn trong khu vực và trên thế giới. Tăng cường mối quan hệ và tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế về kế toán và các tổ chức phi chính phủ trong việc nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm và hỗ trợ các dự án đổi mới mô hình quản lý nghề nghiệp kế toán, cũng như các kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, nghiên cứu các mô hình quản lý kế toán của các nước phát triển để vận dụng vào Việt Nam về xây dựng kỹ thuật nghiệp vụ kế toán; phát triển dịch vụ kế toán; mô hình đào tạo, thi, cấp chứng chỉ hành nghề kế toán. Tiếp tục hỗ trợ tổ chức nghề nghiệp thực hiện đầy đủ vai trò thành viên của các tổ chức Liên đoàn Kế toán quốc tế; Hiệp hội Kế toán ASEAN và thành viên Hiệp hội Kế toán châu Á – Thái Bình Dương… 

Kiểm toán Việt Nam với Hội nhập kinh tế quốc tế

Thứ tư, thay đổi mô hình tổ chức các DN kế toán, kiểm toán của Việt Nam.

Dưới ảnh hưởng từ các xu hướng phát triển của các DN kế toán, kiểm toán của khu vực và thế giới, đáp ứng những nhu cầu mới của DN trong các ngành công nghiệp khi ứng dụng công nghệ 4.0, mô hình tổ chức các DN kế toán, kiểm toán của Việt Nam cũng cần phải được thay đổi. Nhiều DN ở Việt Nam đã bắt đầu thay đổi mô hình tổ chức để ứng dụng các công nghệ chuỗi khối, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo nhằm làm giảm chi phí và sử dụng hiệu quả tối đa các nguồn lực là một thực tế mà các DN kế toán, kiểm toán phải cân nhắc và thay đổi mô hình tổ chức của mình. Tuy nhiên, sự thay đổi mô hình tổ chức như vậy chưa có tiền lệ và các DN kế toán, kiểm toán cũng cần phải học tập, thu thập tri thức mới về các mô hình tổ chức DN trong lĩnh vực của mình có ứng dụng các công nghệ mới này. Quá trình đó đòi hỏi DN không ngừng tiếp thu tri thức mới và tính toán các khoản mục đầu tư cho công nghệ của mình để có thể tiết kiệm các chi phí phát sinh. Khả năng thu hồi vốn đầu tư từ những khoản đầu tư phát sinh từ quá trình thay đổi mô hình tổ chức, ứng dụng công nghệ 4.0 cũng là một vấn đề các DN kế toán, kiểm toán cần cân nhắc thận trọng.

Theo đó, những xu hướng sau sẽ ảnh hưởng mạnh đến mô hình tổ chức của DN kế toán, kiểm toán: (i) Sự phát triển của hệ thống kế toán, kiểm toán tự động hóa; (ii) Sự gia tăng các mô hình kinh doanh mới, nhu cầu và dịch vụ mới; (iii) Sự ứng dụng của điện toán đám mây; (iv) Các phương thức kêu gọi vốn đầu tư mới; (v) Sự̉ dụng công nghệ để tăng chất lượng của báo cáo tài chính và các loại báo cáo khác.

Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt Nam.

Các xu hướng mới trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán cũng đặt ra yêu cầu phát triển mới các nhóm kỹ năng cần thiết cho các kế toán và kiểm toán viên. Bên cạnh những kiến thức chuyên môn sâu của các nghiệp vụ kế toán, kiểm toán, các kế toán, kiểm toán viên trong tương lai cũng cần các kỹ năng và kiến thức về luật pháp, công nghệ thông tin, truyền thông và quản lý. Điều đó đặt ra yêu cầu cho các cơ sở đào tạo và bản thân DN thay đổi các chương trình đào tạo và nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực kế toán, kiểm toán. Tóm lại, xu hướng thay đổi trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán trên phạm vi khu vực và thế giới trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 là xu hướng tất yếu. Điều đó đặt ra nhiều vấn đề đối với sự phát triển lĩnh vực kế toán, kiểm toán của Việt Nam. Các cơ sở đào tạo nhân lực cho ngành Kế toán, Kiểm toán. Đẩy nhanh quá trình đổi mới nội dung, chương trình đào tạo chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán phù hợp với xu thế phát triển thế giới. Các cơ sở đào tạo phải rà soát lại, đánh giá lại chương trình đào tạo chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán; kịp thời bổ sung, sửa chữa những thiếu sót cho phù hợp với chương trình đào tạo của các hội nghề nghiệp; nhằm hướng đến sự thừa nhận lẫn nhau giữa các cơ sở đào tạo về chuyên môn và bằng cấp, chứng chỉ. Xây dựng nội dung đào tạo hiện đại, sát thực tế để giúp sinh viên sau khi ra trường thích ứng kịp thời với nghề nghiệp trong thời đại công nghệ số. Chú trọng kết hợp trang bị kiến thức chuyên môn với đào tạo các kỹ năng cần thiết, như: Kỹ năng giao tiếp hiệu quả, làm việc ở nhiều nhóm khác nhau; kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề trên cơ sở tôn trọng đạo đức nghề nghiệp.

Ứng dụng phương pháp dạy học tích cực với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học, lấy người học làm trung tâm. Chú trọng xây dựng, phát triển mối liên hệ giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp.

Thứ sáu, Đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán.

Tuyệt đối chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước về phát triển hệ thống kế toán kiểm toán ở Việt Nam. Đây là điều kiện bắt buộc để các doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao sức cạnh tranh, góp phần xây dựng hệ thống kế toán, kiểm toán phát triển theo đúng định hướng, trở thành công cụ trong hoạt động kiểm tra, giám sát tài chính quốc gia.

Chú trọng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ kế toán, kiểm toán: phát triển các loại hình dịch vụ kiểm toán (kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán vì mục đích thuế, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán hoạt động, kiểm toán công trình xây dựng cơ bản,…); dịch vụ kế toán, dịch vụ tài chính, dịch vụ thuế và kinh doanh, dịch vụ đào tạo, bồi dưỡng kế toán, kiểm toán,… Các dịch vụ này từng bước phải đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.

Thường xuyên kiểm tra, kiểm soát chất lượng hoạt động kế toán, kiểm toán bằng các quy định, quy trình nghiệp vụ đối với nhân viên kế toán, kiểm toán. Chú trọng hoàn thiện các quy trình kiểm soát chất lượng, như: quy trình tuyển dụng nhân viên có đầy đủ chứng chỉ hành nghề, có trình độ cao và có phẩm chất đạo đức; quy trình đào tạo định kỳ, tập huấn nghiệp vụ; quy trình cung cấp dịch vụ từ đầu vào đến thực hiện đến đầu ra của sản phẩm dịch vụ cung cấp phải đúng quy trình và có kiểm soát chất lượng dịch vụ.

4. Kết luận: Như vậy, Kế toán, Kiểm toán Việt Nam đẩy mạnh toàn cầu hóa và hội nhập mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia trong việc thúc đẩy đầu tư và thương mại quốc tế. Chính vì thế, Việt Nam không ngừng tìm kiếm các giải pháp nhằm đáp ứng được xu thế hội nhập kế toán, kiểm toán trên thế giới. Mặc dù, đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn nhiều tồn tại. Do đó, từng bước xây dựng lộ trình cũng như hoàn thiện Kế toán, kiểm toán Việt Nam để hội nhập với thế giới là yêu cầu cấp thiết./.

Tài liệu tham khảo:

1- Đỗ Tất Cường (2020), “Dự báo những xu hướng thay đổi trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán”, Tạp chí Tài chính kỳ 1 tháng 4/2020

2- Nguyễn Đăng Huy (2017), “Nâng cao vị thế, chất lượng hoạt động kế toán và kiểm toán trong bối cảnh hội nhập”, Tạp chí Tài chính, số 7/2017

3- Đặng Văn Thanh (2019) “Tương lai và triển vọng mới cho ngành nghề Kế toán, Kiểm toán Việt Nam” Tạp chí Kế toán Kiểm toán, số 6/2019

4- Nguyễn, Thắng (2019), “Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đến một số ngành công nghiệp của Việt Nam”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (12), tr. 14-16;

5- Kiều, Hoàn Quốc (2020), “Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến mô hình phân phối của các DN Việt Nam”, Khoa học thương mại. 140(12-21);

6- ACCA (2016), “Professional Accountants—The Future”: Drivers of Change and Future Skills, ACCA London, UK, London, UK;

7- PwC (2018), “Financial Statement Audit: Tech-Enabling the Audit for Enhanced Quality and Greater Insights, Pricewaterhouse and Coopers”;

TS Nguyễn Thu Hương – Trường Đại học Trưng Vương

Gọi ngay
chat-active-icon
chat-active-icon