Triết học là một trong những khoa học cung cấp cho con người những quan niệm và phương pháp nhận thức thế giới. Ngay từ rất sớm, vai trò của Triết học và giảng dạy Triết học đã được quan tâm, chú trọng trong công tác giáo dục ở nước ta. Tiếp tục tinh thần các Đại hội Đảng trước đó, Đại hội XI của Đảng đã đề ra nhiệm vụ: Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị nhằm nâng cao chất lượng, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, trong đó có giảng dạy Triết học. Trong bối cảnh mới hiện nay, việc giảng dạy Triết học có chất lượng tại các trường Đại học- cá nhân tôi cho rằng đây là một vấn đề không dễ nếu không nói là khó, vấn đề này sẽ cần thêm nhiều hội thảo trao đổi cũng như ý kiến của các chuyên gia cũng như ý kiến của giảng viên trực tiếp giảng dạy Triết học.
Trước hết, cần thẳng thắn nhìn nhận khách quan rằng: Bối cảnh mới hiện nay vừa mang lại những thuận lợi song cũng không ít khó khăn, thách thức mới cho giảng viên giảng dạy Triết học. Trong đó việc phân tách 3 môn học: Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa xã hội khoa học thực hiện tại các trường Đại học theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay sau một thời gian sát hợp thành môn chung Những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác- Lênin, với ý kiến cá nhân- đây được xem là sự thuận lợi cho giảng viên giảng dạy Triết học. Bởi lẽ, việc phân tách độc lập 3 môn học này vốn trước đó đã được thực hiện, người giảng viên giảng dạy Triết học có điều kiện phát huy nhiều hơn kinh nghiệm, năng lực chuyên sâu trong mỗi bài giảng cũng như toàn bộ môn học. Bên cạnh những thuận lợi, bối cảnh mới hiện nay cũng đặt ra một số thách thức mới đối với công tác giảng dạy Triết học với tư cách là môn học lý luận cơ bản trong công tác giáo dục lý luận nhằm định hướng thế giới quan, phương pháp luận đúng đắn cho người học trước sự thay đổi nhanh chóng mãnh mẽ của thời đại. Thêm nữa, trong bối cảnh hiện nay, một nhiệm vụ khó khăn đối với giảng viên Triết học hiện nay là cuốn hút người học yêu mến và say mê môn học vốn được xem là “Hàn lâm”, là “khô khan” mà không ít sinh lo lắng khi họ đăng ký học.
Trong khuôn khổ của Hội thảo, từ thực tiễn giảng dạy Triết học của mình, xin mạn phép trình bày một số suy nghĩ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Triết học Mác- Lênin tại các trường Đại học trong bối cảnh hiện nay như sau:
Thứ nhất, người giảng viên giảng dạy triết học phải thấy được đặc thù của môn triết Mác- Lênin.
So với các môn học khác, đối tượng của môn triết học Mác- Lênin được xác định là những quy luật phổ biến nhất của sự tồn tại, vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Những quy luật này được phản ánh thông qua hệ thống các nguyên lý, quy luật, phạm trù của triết học Mác-Lênin. Do đó, một nhiệm vụ quan trọng của người giảng viên triết học Mác- Lênin tại các trường đại học hiện nay chính là dạy cho người học tiếp thu, nắm vững những nguyên lý, quy luật của triết học. Vì vậy, người giảng viên giảng dạy môn học này không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phải thấy tính đặc thù của môn thù môn học. Trên thực tế, do không nắm vững những nguyên lý, quy luật của triết học, một số giảng viên bị nhầm lẫn với ngôn ngữ thông thường, ví dụ như: phạm trù vật chất trong triết học với cách hiểu vật chất trong cụm từ “nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân” hay quan niệm về thời gian trong triết học Mác- Lênin chỉ độ dài diễn biến của sự ra đời, tồn tại, mất đi của sự vật với thời gian chỉ đơn thuần là “ngày, tháng, năm”… Về góc độ giảng dạy khi thẳng thắn nhìn nhận một số nhầm lẫn, sai xót trong quá trình giảng dạy các nguyên lý, quy luật, phạm trù của triết học Mác- Lênin gây ra những hệ quả khá lớn, trong đó dễ thấy nhất là người học hiểu sai kiến thức, không hào hứng với môn học. Có thể lấy 1 ví dụ như sau: khi giảng phạm trù Lượng, một số giáo viên chưa chỉ ra tính quy định khách quan vốn có của sự vật nhưng biểu thị đại lượng các con số về quy mô, trình độ, tốc độ, nhịp điệu…của sự vận động, phát triển của sự vật, thường đồng nhất lượng với số lượng các yếu tố, thuộc tính…của sự vật mà chưa chỉ ra một đặc trưng quan trọng của lượng trong triết học đó là thông qua các con số nói lên sự vật vận động nhanh hay chậm, nhịp điệu phát triển, vận động đều hay không đều, quy mô nhỏ hay lớn, trình độ cao hay thấp…
Do đó, để giảng dạy triết học Mác- Lênin có chất lượng, người giảng viên phải nắm vững toàn bộ kiến thức triết học, dù chỉ giảng một bài hay một chuyên đề được phân công. Bởi lẽ, triết học Mác- Lênin là môn khoa học có sự thống nhất hữu cơ không thể tách rời giữa các mục, các chương với nhau, kiến thức các bài có liên hệ mật thiết với nhau. Ví dụ khi giảng về khái niệm phát triển trong nguyên lý phát triển theo quan điểm duy vật biện chứng, nếu giảng viên không nắm vững kiến thức về khái niệm vận động trước đó sẽ dẫn tới cách hiểu phát triển đồng nhất với với vận động, về thực chất khi nắm vững kiến thức về vận động cho thấy phát triển là một quá trình vận động, song khác với vận động, đặc tính quan trọng nhất của phát triển là sự ra đời của cái mới. Việc nắm vững toàn bộ kiến thức triết học sẽ giúp người giảng viên triết học Mác- Lênin cung cấp kiến thức chính xác cho người học, đồng thời thu hút sự theo dõi của người học với bài giảng khi có sự kết nối chặt chẽ trong hệ thống các quan điểm triết học Mác-Lênin.
Ngoài ra, người giảng viên giảng dạy môn triết học Mác- Lênin phải có kiến thức về lịch sử triết học. Như chúng ta đều biết rằng, triết học Mác- Lênin ra đời là sự kế thừa những giá trị tư tưởng nhân loại trên cơ sở thực tiễn của thời đại. Do đó, khi giảng dạy, những kiến thức lịch sử triết học luôn có vai trò đặc biệt quan trọng với môn học triết học Mác- Lênin. Thực tiễn giảng dạy trong những năm qua, khi có sự thay đổi trong chương trình môn học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin, những nội dung về lịch sử triết học đã bị lược bỏ khá nhiều trong giáo trình. Song, điều này không đồng nghĩa với việc giảng viên giảng dạy triết học Mác- Lênin “bỏ quên” những kiến thức lịch sử triết học trong quá trình giảng dạy triết học Mác-Lênin. Bởi lẽ, những nguyên lý, phạm trù, quy luật của triết học Mác- Lênin chỉ có thể được làm sáng tỏ trên nền tảng lịch sử triết học trong sự kế thừa, đối sánh và phát triển. Vì vậy, để giảng dạy triết học Mác- Lênin chất lượng, người giảng viên phải nắm vững kiến thức triết học nói chung và lịch sử triết học nói riêng.
Thứ hai, người giảng viên giảng dạy triết học phải luôn làm chủ lớp học
Để làm chủ lớp học, người giảng viên có nhiều cách thức khác nhau. Song về cơ bản, để làm chủ lớp học, người giảng viên cần nắm rõ đối tượng người học là ai, trình độ học vấn ra sao, ngành học gì…Trên cơ sở đó giảng viên quyết định dung lượng kiến thức, cách trình bày bài giảng. Đối với giảng viên giảng dạy triết học Mác-Lênin, việc nắm rõ đối tượng người học rất quan trọng trong quá trình làm chủ lớp học vì các nguyên lý, phạm trù, quy luật triết học tương đối trìu tượng, với từng đối tượng người học khác nhau, người giảng viên nên lựa chọn cách trình bày, lấy ví dụ, minh chứng cũng như rút ra ý nghĩa phương pháp luận khác nhau. Trên thực tế, cùng một nguyên lý triết học Mác-Lênin nhưng ý nghĩa phương pháp luận khác nhau giữa sinh viên học ngành công trình khác sinh viên học ngành kế toán, giữa học viên cao học với sinh viên…
Làm chủ lớp học cũng đồng nghĩa người giảng viên phải làm chủ chương trình bài giảng, mục giảng trong quá trình giảng dạy. Làm chủ lớp học phải có sự bố trí thời gian từng mục, từng phần, mục giảng, hạn chế tối đa việc cháy giáo án, càng không được viết nhầm tên bài, tên chương, tên mục. Để làm chủ được bài giảng, đòi hỏi giảng viên cần có sự chuẩn bị chu đáo mỗi lớp học, mỗi bài giảng và có kế hoạch chi tiết (kể các kiến thức và thời gian) cho các mục, các phần. Trong quá trình giảng mà quá thời gian theo kế hoạch dự định thì cần điều chỉnh kịp thời.
Làm chủ lớp học cũng có nghĩa là phải bao quát lớp học. Khi có biểu hiện ồn ào hoặc thiếu tập trung từ lớp học, cần có sự điều chỉnh về bài giảng, âm lượng, tốc độ truyền đạt. Đặc biệt bao quát về mức độ tiếp nhận kiến thức của người học với bài giảng của mình. Thông thường không khó với một giảng viên trong việc nắm bắt thông tin này, người học có thể biểu hiện qua thái độ, hành vi về sự hứng thú hay không hứng thú? Hiểu bài hay không hiểu bài? Người học không hiểu có thể do người giảng viên nói quá nhanh, trình chiếu quá nhiều chữ, âm thanh qua míc có thể bị dè…Trong bối cảnh như vậy, giảng viên có thể hỏi trực tiếp ý kiến người học về bài giảng của mình, vừa tạo sự gần gũi, thân mật trong lớp học, vừa giúp giảng viên có thể kịp thời điều chỉnh nếu chưa phù hợp.
Thêm nữa, người giảng viên làm chủ lớp học còn có nhiệm vụ tạo không khí sôi nổi trong giờ giảng. Ngày nay, mối quan hệ giữa thầy và trò đã có những thay đổi nhất định, với môn triết học, trong giờ giảng, người giảng viên không chỉ thuần túy là người giảng giải, người học cũng không thuần túy là người ghi chép, người nghe giảng. Chính vì thế, tạo ra một không khí học tập sôi nổi sẽ góp phần nâng cao hiệu quả bài giảng triết học. Muốn vậy, người giảng viên cần phải thay đổi phương pháp giảng dạy, cần rèn luyện tác phong, âm lượng truyền đạt phù hợp. Kinh nghiệm cho thấy, nếu trong mỗi tiết giảng triết học, người giảng viên đưa vào những câu chuyện dí dỏm đúng lúc, đúng chỗ sẽ tạo không khí lớp học vui vẻ, thân thiện, người học sẽ hứng thú hơn với bài giảng của giảng viên.
Thứ ba, trong quá trình giảng dạy môn triết học Mác- Lê nin, giảng viên nên truyền đạt các nguyên lý, phạm trù, quy luật qua các ví dụ sinh động, dễ hiểu.
Vai trò của các ví dụ cụ thể minh chứng nội dung lý thuyết trong mỗi môn học luôn đóng một vai trò quan trọng. Với môn triết học Mác- Lênin, các nội dung được khái quát thành các nguyên lý, phạm trù, quy luật nên người học hầu hết đều gặp khó khăn trong quá trình tiếp nhận kiến thức nếu giảng viên chỉ thuần túy diễn giảng lý thuyết. Thực tế giảng dạy đã cho thấy, nhiều giảng viên quá say sưa với các nội dung lý thuyết, trích dẫn nhiều câu nói kinh điển, song lại không minh chứng qua các ví dụ cụ thể khiến cho môn học trở thành khó hiểu, khô khan và không hấp dẫn người học. Vì thế, việc lấy các ví dụ cụ thể và phân tích các ví dụ đó trong mỗi nội dung bài học góp phần vào hiệu quả bài giảng của giảng viên môn triết học Mác-Lênin. Ví như, trong nội dung về hai nguyên lý, ba quy luật, sáu cặp phạm trù của triết học Mác- Lênin, với mỗi khái niệm, tính chất, nội dung, ý nghĩa phương pháp luận giảng viên các ví dụ sinh động, hấp dẫn sẽ làm cho sinh viên tiếp thu bài giảng dễ dàng hơn, các kiến thức triết học nhờ đó không bị xa rời thực tiễn.
Tuy nhiên, việc chuẩn bị chu đáo các ví dụ và lựa chọn các ví dụ phù hợp với mỗi nội dung của bài học là một vấn đề không hề đơn giản với giảng viên triết học Mác-Lênin. Bởi lẽ, các ví dụ và giải thích ví dụ không rõ ràng, không thuyết phục sẽ phản tác dụng khiến cho người học khó hiểu, chán học. Ngoài ra, sẽ là sai lầm nếu như trong một bài giảng các giảng viên lạm dụng nhiều ví dụ khiến nội dung không được khái quát, các ví dụ không được chọn lọc dễ xa vào lan man, thiếu trọng tâm.
Do đó, với giảng viên môn triết học Mác-Lênin, các ví dụ cần có sự chuẩn bị chu đáo, ví dụ phải phù hợp với trình độ, có nguồn gốc rõ ràng, mang tính phổ biến. Kinh nghiệm cho thấy, những ví dụ môn học triết học Mác-Lênin gắn với
các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội được xem xét dưới góc độ triết học sẽ thu hút, hấp dẫn người học trong mỗi bài giảng.
Thứ tư, giảng viên triết học Mác- Lênin cần sử dụng một các hợp lý các thiết bị phương tiện hiện đại.
Ngày nay, các phương tiện, thiết bị hiện đại đóng một vai trò quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, điều này hiển nhân không thể phủ nhận được. Tuy nhiên, tùy vào từng môn học, ngành học khác nhau, người giảng viên phải lựa chọn các công cụ đó một các phù hợp. Đối với môn triết học Mác-Lênin, các phương tiện, thiết bị hiện đại nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ sẽ làm giúp người học tiếp cận dễ dàng hơn các nguyên lý, quy luật, phạm trù. Ngược lại, khi giảng viên triết học lạm dụng các thiết bị kỹ thuật trong môn học của mình sẽ gây hiệu ứng phản tác dụng, khiến cho người học không nắm được nội dung bài học cũng như lôgic kết nối nội dung từng phần. Các phương tiện, thiết bị hiện đại thực chất là công cụ góp phần hỗ trợ nhưng không thể thay thế được vai trò của người giảng viên. Do đặc thù môn triết học Mác-Lênin, giảng viên giảng dạy các nguyên lý, quy luật, phạm trù triết học phải luôn gắn liền với công việc giải thích, lập luận, thuyết minh. Trong quá trình giảng dạy, người giảng viên lựa chọn sự hỗ trợ của các phương tiện, thiết bị trong giờ giảng, song sự dẫn dắt của người thầy vẫn đóng vai trò quyết định chất lượng và sự hấp dẫn của bài giảng. Trong thực tiễn giảng dạy, một số giảng viên triết học uy tín vẫn có thể lôi cuốn người học chỉ bằng bảng đen, phấn trắng. Điều này không có nghĩa phủ nhận vai trò của các công cụ hiện đại hỗ trợ giảng dạy, song người giảng viên nên sử dụng chúng một cách phù hợp.
Ngoài bốn nội dung chính tác giả để cập tới để nâng cao chất lượng giảng dạy môn triết học Mác- Lênin ở trên, còn có một số yếu tố khác cũng có tác động tới chất lượng bài giảng của giảng viên như: khả năng thuyết trình, đối tượng người học, môi trường giảng dạy… Giảng dạy Triết học từ xưa tới nay không phải là công việc dễ dàng, trong quá trình thực tiễn giảng dạy triết học Mác- Lênin, mỗi người giảng viên có thể tự tích lũy được những kinh nghiệm riêng để góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn Triết học trong bối cảnh hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Nguyễn Ngọc Bảo. Phong cách tư duy khoa học trong hoạt động nhận thức- học tập, Tạp chí Giáo dục (1).
[2] Nguyễn Thị Bích Hạnh. Xác lập quy trình sư phạm tương tác trong quá trình giảng dạy ở đại học, Tạp chí Giáo dục (7-11).
[3] Dương Phú Hiệp. Tiếp tục đổi mới nghiên cứu và giảng dạy Triết học ở nước ta. Tạp chí Triết học (2).
[4] Nguyễn Ngọc Hợi, Phạm Minh Hùng. Vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy ở trường đại học. Tạp chí Giáo dục (20).
Trưởng Khoa Cơ bản
TS. Nguyễn Thị Hoàn
English